Đám tang bà cụ Hương là một đám tang lớn. Từ trước đến giờ trong giáo xứ này chưa ai thấy một đám tang nào lại quàn xác tại nhà lâu đến cả tuần như thế. Nguyên chuyện có cái hòm lạnh để quàn xác nghe đã thấy lạ rồi. Nghe mọi người kháo nhau, đợi cô Tuyết, con gái đầu của cụ từ Hoa Kỳ về nhìn mặt mẹ lần cuối. Cụ Hương có hai người con, cô Tuyết là cả, sau cô chỉ còn cậu Hưng. Mẹ mới mất mấy ngày mà cậu Hưng trông xọp hẳn đi. Cậu thương mẹ cũng nhiều nhưng áy náy cũng lắm. Cậu sợ phải giáp mặt với chị Tuyết. Cậu vẫn còn nhớ như in, cách đây gần 30 năm, trước khi cô Tuyết, chị của cậu lên đường vượt biên, chị đã kéo tay cậu ra sau vườn dặn dò. Chị nói chuyến đi này lành ít dữ nhiều, mong cậu ở nhà trông nom mẹ già cẩn thận. Hai chị em sụt sùi mãi. Cậu nhớ lắm chứ. Dù nếu mỗi năm đôi bận, chị Tuyết không gửi tiền, quà về giúp cậu, cậu vẫn chẳng vì thế mà không chăm sóc mẹ già. Nhưng càng nghĩ, cậu lại càng áy náy và bực mình với mẹ. Ở với con cháu, có người phụng dưỡng bà cụ không muốn, lại cứ muốn ở một mình. Ấy là chuyện đã cách đây hơn 5 năm. Hồi trước cậu lấy vợ, sinh con đẻ cái đều ở trong căn nhà lụp xụp của bố mẹ tận tít cuối làng. Sau làm ra tiền, nội ngoại mỗi bên cho một ít, chị Tuyết cũng cho một ít, cậu mua nhà ngoài xã, tiện cho việc đi lại, buôn bán của cậu mợ cũng như việc học hành của các cháu. Những tưởng bà cụ sẽ bán ngôi nhà cũ và ra ở với cậu mợ, với các cháu nhưng nói thế nào bà cũng không chịu. Cậu và chị Tuyết năn nỉ mãi, bà vẫn khăng khăng bảo rằng đất của tổ tiên sao có thể bán. Bà nói bà còn khoẻ, thích ở một mình hơn. Hai vợ chồng cậu và chị Tuyết đành chiều ý bà cụ. Bà đã chẳng giận không thèm ăn cơm là gì. Thôi thì đến nước này, hàng tháng chị Tuyết đều gửi tiền về cho mẹ dưỡng già, vợ chồng cậu Hưng có bổn phận ghé thăm, trông nom bà cụ. Thế cũng tạm ổn. Nhưng chuyện ấy không phải là điều khiến cậu áy náy khi đứng trước linh cữu của mẹ. Số là mới tuần trước, sau khi giao hàng về, gạt chân chống xe dựng trước cửa, vợ cậu đã từ nhà chạy ra nói : Anh chạy vào mẹ xem mẹ ra sao. Nghe con Xuân, bạn em đi chợ về mách rằng mẹ cứ ra chợ xin người ta mấy thứ iu, thối về ăn. Để mẹ mình như thế xấu hổ chưa? Ối dào, tiền của bà bằng mấy của mình. Tháng nào chị Tuyết chẳng gửi tiền về biếu bà. Một mình bà ăn làm sao hết. Mà vợ chồng mình có xin bà gì đâu. Tiền của bà, bà xài. Biết thế nhưng anh cứ chạy vào thăm mẹ một chút xem nào! Thôi được rồi. Mẹ mày đưa tôi cái túi đồ nghề để tôi vào sửa công tắc điện cho bà. Tiện đây anh chờ em chút để em múc ít thức ăn, anh mang vào cho mẹ luôn. Mau mau đi. Nắng quá rồi đó. Khoác túi đồ nghề, cầm cà-mên thức ăn, Hưng vội vàng chạy vào trong làng. Tội nghiệp bà cụ, ở một mình chắc buồn lắm. Dẫu bà có nói thích ở một mình, nhưng nhìn vào mắt mẹ, cậu Hưng biết bà mong vợ chồng cậu cũng như những đứa trẻ nhà cậu vào thăm đến chừng nào. Mỗi lần con Ti, thằng Tèo vào thăm, y như rằng bà đều có quà cho chúng nó. Lúc thì đồng bánh chưng, lúc thì túi kẹo. Còn trái cây thì khu vườn bà chăm có sẵn đấy. Vào nhà bà được bà thương quý, mặc sức chạy nhảy là vậy, nhưng hai chị em đâu hẳn lúc nào cũng ở trong đó. Chúng còn phải đi học không những ở trường mà còn đi học thêm nữa. Chỉ có Chúa nhật là chúng được tự do vào chơi trong bà mãi đến tối mịt mới về. Tiếng xe của cậu Hưng còn vọng mãi từ đàng xa, con chó Mực đã sủa vống lên chạy ra đón. Cậu phải lên tiếng quát nạt con Mực để nó đừng nhảy chồm lên làm đổ thức ăn. Vừa đi vào nhà, cậu vừa cất tiếng gọi mẹ. Trong góc nhà, bà cụ Hương đang nằm trên giường vội lồm cồm bò dậy. Cậu Hưng lên tiếng hỏi: Mẹ làm sao thế? Không sao, chỉ hơi mệt chút. Chắc trúng gió. Để con đưa mẹ đi nhà thương. Không cần đâu, nằm nghỉ một lát là khoẻ ngay ấy mà. Hay để con cạo gió cho mẹ. Ừ, anh cạo gió cho mẹ một tí. Con có mang chút thức ăn, vợ con mới nấu xong. Để con cạo gió xong mẹ ăn cho khoẻ. Cầm đồng bạc thời xưa, thoa dầu gió lên lưng cụ Hương, cậu Hưng bắt đầu cạo gió cho mẹ. Cậu nhớ hồi trước, khi còn nhỏ, bấy giờ có thuốc thang gì đâu, ốm đau chỉ cạo gió là xong. Hồi ấy, cậu sợ cạo gió lắm. Mỗi lần nhìn thấy mẹ cầm đồng bạc là cậu thấy như sắp bị tra tấn đến nơi. Dưới những đường cạo của mẹ, cậu quằn qoại như đỉa phải vôi. Hồi ấy bà cụ cũng khoẻ, một chân bà gác ngang đùi cậu, một chân bà đè ngay cổ thế là thằng con trai của bà nằm im, hết cựa quậy, muốn la hét van vỉ gì cũng được. Bây giờ cạo gió cho mẹ, cậu Hưng thấy thương tấm lưng gầy của mẹ. Tội nghiệp, cuộc đời mẹ chẳng mấy khi vui. Lấy chồng từ năm 18, mười năm sau, chồng chết trận bỏ mặc ba mẹ con thui thủi. Ngày chị Tuyết vượt biên, khi ấy khoảng đầu thập niên 80, lúc chị đã ngoài 25 tuổi, cụ Hương chắt bóp được hai lượng vàng nộp cho người ta để chị được đi. Cuộc vượt biên trót lọt, chị định cư bên Hoa Kỳ và lập gia đình tại đó. Còn nhớ suốt một năm đầu tiên, không có tin tức gì của chị, cụ Hương như ngồi trên đống lửa. Cậu Hưng biết mẹ có thể đánh đổi mọi thứ nếu lùi lại quá khứ để ngăn không cho chị vượt biên. Những câu chuyện về bão tố, cướp biển làm mẹ mất ăn mất ngủ. Cũng may, cuối cùng thì thư của chị cũng về tới nhà. Chị bình an. Hôm ấy cậu vẫn nhớ mẹ lên tận xưởng mộc, chỗ cậu làm việc để xin phép cho cậu về sớm. Hai mẹ con đọc đi đọc lại lá thư đến mấy chục lần. Lâu lắm rồi cậu mới thấy mẹ vui như thế. Cạo gió xong, cậu Hưng vội bày cơm cho mẹ. Bà cụ Hương ăn chừng nửa chén cơm, húp mấy muỗng canh liền bỏ. Bà nói còn mệt, không ăn được. Cậu Hưng liền nói: Mẹ cố nằm nghỉ chút, con về ăn vội miếng cơm, thu xếp việc nhà, khoảng một, hai giờ con vào chở mẹ đi bệnh viện. Đi giấc trưa thế này chắc bác sĩ người ta cũng nghỉ ăn cơm rồi. Sợ không có ai khám cho mình. Ừ! Anh cứ về đi. Cứ làm cho xong việc đi rồi vào. Hay mẹ lên con chở ra nhà con luôn, lát đi cho tiện. Không anh cứ về đi, mẹ còn chuẩn bị chút. Bụng mẹ hơi đau đau. Để mẹ “đi cần” đã. Vậy thì mẹ nghỉ nhé, nửa tiếng nữa con vào. Nửa tiếng sau cậu Hưng chạy vào để chở mẹ đi bệnh viện. Vào đến nhà, cậu thấy mẹ nằm lả trên giường. Nửa chén cơm ăn lúc nãy đã bị mẹ ói ra bên cạnh chân giường. Bà cụ Hương nằm trong bệnh viện ba ngày rồi mất. Bác sĩ nói bị ngộ độc thức ăn. Thêm nữa bà bị xuất huyết bao tử nên không cứu được. Cậu gọi điện thoại cho chị Tuyết báo tin từ khi mẹ còn nằm trong bệnh viện. Chị nói phải thu xếp công việc, nhanh lắm cũng mất khoảng một tuần. Vừa gọi điện thoại báo tin mẹ bệnh, sau đó vài ngày cậu lại gọi điện thoại báo tin mẹ mất. Nghe xong tin ấy, chị Tuyết lặng đi và bảo: Cậu cứ quàn xác mẹ đợi tôi thu xếp về sớm để gặp mẹ lần cuối. Mà… mà hình như vợ chồng cậu không chăm sóc cho mẹ đàng hoàng thì phải. Tôi có bao giờ tiếc xót gì với vợ chồng cậu đâu. Mẹ ơi là mẹ… hu… hu. Chị Tuyết về bất ngờ, chẳng báo cậu Hưng thuê xe đi đón. Về lần này, chị đưa cả chồng và thằng con trai út của chị. Chị bảo để cháu chịu tang bà. Từ lúc về, ngoài chuyện uống nước ra, chị chẳng thèm ăn gì, cứ ngồi bên quan tài của mẹ. Hai mắt chị lúc nào cũng đỏ hoe, sũng nước. Đứa con út, lúc đầu còn ngồi cạnh mẹ. Sau thấy mẹ ngồi lâu quá, đành ra chơi với mấy đứa con cậu Hưng. Bà con lối xóm nghe biết chị về, lục tục sang đọc kinh, viếng xác và cũng để hỏi han chia buồn cùng chị. Dễ chừng gần 5 năm chị chưa về rồi còn gì. Vài lần họ nghe cụ Hương bảo con Tuyết sắp về, nhưng lần nào chị cũng phải lỗi hẹn. Hai vợ chồng chị sống cũng vất vả. Anh chồng cũng là một thuyền nhân vượt biên. Hai vợ chồng lấy nhau và nương tựa vào nhau để sống. Nếu chỉ có vợ chồng với con cái không thì chẳng sao. Đàng này họ còn cưu mang cả gia đình bên vợ lẫn gia đình bên chồng. Vậy nên họ phải gồng gắng giữ lắm. Tiếng bà con lối xóm xầm xì quanh bàn nước sau khi đọc kinh xong làm chị bối rối không ít. Chị biết họ chờ chị để có thể hỏi han đôi ba câu. Người nhà quê vậy đấy. Tình nghĩa là trên hết. Nhưng trong lúc này, chị đành thất lễ vậy. Cứ để chồng chị và vợ chồng cậu Hưng tiếp khách, chị chỉ muốn ngồi bên mẹ. Người nào yêu thương mẹ nhất mực, sống xa mẹ lâu năm mới hiểu được nỗi lòng của chị. Càng nghĩ đến mẹ, càng thương mẹ bao nhiêu, chị càng giận vợ chồng cậu Hưng bấy nhiêu. Có mỗi mình mẹ già thôi, thế mà không chăm sóc cho mẹ được. Để mẹ phải đi nhặt nhạnh ngoài đường, ăn vớ vẩn, bị ngộ độc rồi chết. Tiền bạc thì chị đã gửi về nuôi rồi, hai vợ chồng không phải lo toan gì. Mẹ cần ăn, cần uống thuốc gì thì cứ đi mua hộ mẹ. Có vậy thôi mà cũng không chăm được. Lúc hai vợ chồng cậu mua nhà, dẫu chẳng có tiền, hai vợ chồng chị cũng đi vay người khác để cho hai em. Số vay đó dễ đến cả năm sau chị mới trả hết. Thế mà hai vợ chồng lại không biết ơn. Tiền chị gửi về cho mẹ dưỡng già không khéo cũng bị hai vợ chồng này bòn rút hết thôi. Bà không cho hai vợ chồng cậu thì còn cho ai. Nghĩ đến đấy nước mắt chị cứ trào ra vì thương mẹ, vì bực vợ chồng cậu Hưng bất nghĩa, bất hiếu. Bầu khí gia đình bà cụ Hương trong mấy ngày cô Tuyết về rất ảm đạm. Chẳng ai nói với ai câu nào. Cần gì hay nói gì, chồng và đứa con chị Tuyết là cầu nối. Chị Tuyết nghĩ, đám tang xong là hai vợ chồng sẽ về ngay bên nội ở mãi Miền Tây. Ở đấy chơi vài ngày, vợ chồng chị và con sẽ về Hoa Kỳ ngay. Nhưng trước khi đi, thế nào chị cũng nói thẳng với hai vợ chồng cậu Hưng một lần để liệu mà biết cách ăn ở. Đám tang cụ Hương ai cũng bảo rằng lớn. Lớn không có nghĩa vợ chồng chị Tuyết hay cậu Hưng bỏ tiền thuê kèn trống hay mua nhiều hoa tươi, vòng cườm. Nhưng chẳng hiểu sao bà con trong giáo xứ và cả những người xa lạ, không quen biết đi dự thánh lễ an táng rất đông. Họ nói lúc sinh thời, cụ Hương giúp đỡ họ nhiều. Chẳng còn dịp nào để trả ơn nên họ trả ơn bằng cách tham dự thánh lễ, đưa bà ra nghĩa trang vậy. Đang lúc bối rối, chị Tuyết cậu Hưng cũng chẳng hỏi han thêm. Chắc sinh thời, bà cụ Hương có dịp cho họ cái này cái nọ. Những tưởng chuyện cụ Hương hay giúp đỡ người khác chỉ loanh quanh vài người biết. Nhưng không, trong bài giảng tiễn biệt, cha xứ đã lấy cụ như là mẫu gương cho đức ái Ki-tô giáo. Cha tán dương cụ vì tấm lòng bao dung, độ lượng. Cụ đã không tiếc lời cầu nguyện và cả vật chất cho những công trình chung trong giáo xứ. Và như cha có nói, mọi người trong giáo xứ biết ơn cụ. Bài giảng của cha xứ đã làm hai chị em nguôi ngoai đi phần nào trước thắc mắc cụ Hương đã làm gì với số tiền mà chị Tuyết thường gửi về. Chẳng phải chỉ có chị Tuyết biếu tiền cụ Hương không mà thôi. Lúc ít lúc nhiều, vợ chồng cậu Hưng cũng biếu mẹ chút ít để mẹ ăn quà, uống thuốc. Kể là không có gì phải bận tâm mưu sinh, thế mà lúc nào trông cụ cũng như nghèo khó lắm. Giờ mọi người đã hiểu. Đám tang xem như đã thu xếp tốt đẹp. Hai chị em con cụ Hương làm bữa cơm mời bà con chòm xóm và những người phục vụ, gọi là đáp nghĩa lại họ. Đang giở bữa cơm thì bà Hai tới. Bà là trưởng Huynh đoàn Đaminh trong giáo xứ, nơi cụ Hương là thành viên. Trên tay bà ôm hộp giấy. Bà Hai vào gặp riêng hai chị em cô Tuyết nói là có ít đồ của cụ Hương để lại, giờ cụ mất, xin trao lại cho hai chị em. Mời bà Hai vào trong nhà, hai chị em cô Tuyết mở hộp ra, chỉ thấy những cuộn giấy xếp ngay ngắn trong đó. Lần giở những cuộn giấy ra, thì thấy toàn là những tấm Vi Bằng Ân Nhân của rất nhiều nhà thờ, nhiều đoàn thể. Trên các tấm bằng đó đều ghi tên của chị Tuyết hoặc của cậu Hưng. Bà Hai nói Lúc sinh thời, cụ Hương rất lo cho hai chị em cô. Sợ rằng các con mải mê làm ăn, rồi ở nơi đất khách quê người, quên mất đạo nghĩa, nên cụ đành dùng cách “xin ân nhân” như thế này. Qua đó như muốn nhờ người khác cầu nguyện giúp cho gia đình của hai chị em. Bà con họ hàng, chòm xóm đang ngồi dùng cơm ngoài sân chợt nghe thấy tiếng chị em cô Tuyết khóc vống lên: “Mẹ ơi…”