Cái nắng oi ả của mùa hè miền Trung làm lão Tào cảm thấy khó chịu. Dẫu sinh ra và lớn lên trên dải đất hẹp khắc nghiệt này, nhưng lão vẫn thích cái lạnh của tháng chạp hơn. Theo lão, cái lạnh của Xứ Nghệ tuy cắt da cắt thịt đấy, nhưng chúng vẫn còn dễ chấp nhận. Có lẽ không khí lạnh ấy thích hợp với tính khí ít nói của lão. Còn cái nắng tháng sáu dễ làm lão cáu tiết, bẳn gắt. Một số người khác lại có sở thích trái ngược với lão. Vợ lão chẳng hạn. Bà chịu được nóng hơn chịu lạnh. Cái lạnh làm cho bà đông cứng lại, chẳng làm được chuyện gì, suốt ngày cứ ngồi trong bếp. Mỗi lần đến tháng lạnh, nghe tiếng bà rên hừ hừ, lão Tào buông tiếng cười khẩy. Còn đến tháng nắng, nhìn thấy lão ngồi tít sau chái nhà, chỗ mấy bụi chuối để tránh cơn gió Lào, bà lão cứ lắc đầu chép miệng. Răng mà có người như rứa! Cứ ngồi suốt ngày trong bóng râm, lấy chi mà cho vô mồm? Bà có hơn gì tui? Tháng chạp thì cứ rúc vào bếp, chớ thấy ra đồng bao giờ. Lạnh quá ai chịu nổi? Mà ông cũng hay thật…. Cứ thế, năm nào cũng vậy, cứ đến mùa đông và mùa hè, hai ông bà thế nào cũng phải cãi nhau ít nhất một bữa ra trò. Giận nhau đến không thèm ăn cơm. Tội cho vợ chồng thằng Hải, thằng con độc nhất của hai ông bà, cứ phải nhường nhịn, năn nỉ mãi, cả ông lẫn bà mới nguôi ngoai, làm hoà. Vậy mà mùa hè này, căn nhà đã vắng tiếng vợ đã hơn một năm. Cái rét khủng khiếp năm trước đã cướp mất vợ của ông. Bà sụt sùi ốm và cứ thế yếu dần. Đến khi đưa lên bệnh viện thì đã trễ. Bác sĩ nói ung thư phổi giai đoạn cuối. Những ngày cuối cùng gần vợ, nghe bà ho cắt ruột cắt gan, ông bỗng ghét cái lạnh. Chẳng những ghét riêng cái lạnh, ông ghét luôn cả mảnh đất Xứ Nghệ nơi có cuộc sống khắc nghiệt, đã sinh ra và nuôi ông lớn lên, và đã từng là niềm tự hào của ông. *** Ông tự hào về quê hương của ông cũng phải. Mảnh đất này đã chẳng sinh ra các cụ đồ nho thâm thuý là gì? Nơi đây nào chẳng phải có dòng sông Lam lượn quanh, dãy núi Hồng Lĩnh sừng sững đó sao? Và quê ông cũng chẳng sản sinh ra vị anh hùng dân tộc Nguyễn Ái Quốc à? Thời trai trẻ, nguyên chuyện nghĩ rằng mình cùng đồng hương Xứ Nghệ với Hồ Chủ Tịch cũng khiến ông không sợ chết khi cầm súng chiến đấu chống Mỹ – Nguỵ. Cũng may mà ông không chết. Sau bốn năm chính thức cầm súng ra trận, ông chỉ bị một vết đạn xuyên bắp đùi bên phải. Mỗi lần trái gió trở trời hay mỗi lần mùa đông tràn về, vết thương lại tấy đau, ông lại cảm thấy yêu hơn quê hương mình. Càng yêu quê hương bao nhiêu, ông lại càng ghét cái tháp nhà thờ bấy nhiêu. Năm 1968, khi ấy mới 15 tuổi, ông đã rất vui khi thấy hai cái tháp nhà thờ đổ ập trước đợt không kích của máy bay Mỹ. Lúc đó ông nghĩ, “bọn chúng giết nhau.” Những điều ông được dạy thời niên thiếu đã đồng hoá đạo Công giáo với quân cướp nước. Rằng đạo Công giáo chỉ là hình thức trá hình của tình báo đế quốc. Thông qua các cha cố, bọn chúng đang thu thập dữ liệu để có ngày tấn công, chống phá cách mạng. Còn những kẻ theo đạo là những kẻ bán nước. Ông đã nghĩ thế và bây giờ ông cũng nghĩ như vậy. Năm 1998, khi nhà thờ được nhà nước cho phép xây dựng lại, ông đã phản ứng dữ dội. Với chức danh cựu chiến binh, ông lên gặp thẳng chủ tịch Tỉnh Nghệ An, tìm đủ mọi cách ngăn cản việc này. Ông không chịu nổi cảnh giữa bầu trời thành phố Vinh hào hùng lại có một chóp nhà thờ ngang nhiên mọc lên. Thế mà ông vẫn không thể làm gì được. Tức chết. Tiếng thằng Hải ông ổng gọi vợ phía nhà trên khiến ông giật mình, tạm dừng suy nghĩ. Ông cất tiếng nạt: Nè, mi đừng có quậy phá chi hết. Con vợ mi đi làm rồi. Lát nữa hắn về. Tội nghiệp thằng Hải, đang nhiên lại như rứa. Kể từ ngày vợ ông mất, bỗng nhiên thằng Hải đâm buồn, lầm lỳ hẳn, chẳng nói chẳng rằng. Suốt ngày ở nhà không chịu đi làm. Riết rồi hắn dễ nổi nóng với mọi người. Chỉ cần ai đó vô cớ nhắc đến tên hắn hoặc tên mẹ của hắn là hắn nổi nóng. Ông đã phải nhiều lần đứng ra can ngăn, xin lỗi người khác vì những hành động thiếu trí khôn của hắn. Mọi người nghĩ chắc là do hắn thương mẹ quá đấy thôi. Ông cũng hết sức khuyên nhủ mà chẳng ăn thua. Người ta nói hắn bị điên, mắt càng ngày càng dại đi. Ông chẳng có tiền đưa hắn đi chữa bệnh. Mọi khi với nghề thợ xây, hắn là lao động chính trong nhà. Giờ hắn như thế, lấy tiền đâu ra. Ngày đủ hai bữa ăn là may lắm rồi. Việc ông rất thương hắn chẳng phải vì hắn là đứa con độc nhất. Thiếu gì gia đình có con một, đã phải khốn đốn bởi đứa con chẳng ra sao. Nhưng hắn là đứa con có hiếu, chăm sóc bố mẹ hết mực. Ông rất hài lòng về hắn. Trong đời ông chỉ có một lần ông giận hắn cả tháng không thèm nói chuyện đó là khi hắn đòi cưới con bé Hoàng. *** Chuyện tình duyên của con cái ông cũng không muốn cấm cản làm gì. Chỉ đáng tội con Hoàng là con của một gia đình Công giáo. Mà ông cực ghét người có đạo. Thế là ông cấm. Khi ấy thằng Hải không biết ăn phải bùa mê thuốc lú gì mà nó cứ nằng nặc đòi cưới cho bằng được. Ông làm mạnh bằng cách doạ sẽ từ con. Vậy mà nó có sợ đâu. Khách quan mà xét, con Hoàng trông cũng được, hiền thục, dễ thương. Nếu nó không phải là người Công giáo thì may biết mấy. Cha con ông sẽ chẳng mất lòng nhau. Cuối cùng ông phải ra điều kiện. Rằng con Hoàng sẽ không được rủ rê thằng Hải theo đạo, con cái sinh ra không được rửa tội. Trước mặt ông, hai đứa nó đồng ý. Bà vợ của ông góp ý thêm là cái đất mấy chục năm không có nhà thờ như đất Cầu Rầm này, người ta chẳng còn đạo nghĩa gì. Có cha cụ nào đến đây trụ được lâu đâu! Vậy nên ông chẳng cần phải sợ. Nghe bùi tai, thế là ông cho cưới. Ấy vậy mà vợ chồng chúng cũng ăn ở hoà thuận với nhau được hơn 10 năm. Có cho ông thằng cháu nội tên Cường. Giờ chắc hai mẹ con nó đi cũng sắp về. Đã năm giờ chiều rồi còn gì. Ông vừa nghĩ thế, chợt nghe tiếng lao xao ngoài đầu ngõ, con chó vàng ngúng nguẩy chiếc đuôi chạy vù ra sủa vống lên. Thằng Cường chạy vào phía ông nói bi bô: Con chào ông con mới về. Ông ơi, mê con mua cho ông cái bánh chuối này. Mệ cũng mua cho Thầy một cái. Để con vào đưa cho Thầy. Vợ Hải chậm chạp dắt xe đạp dựng gần ụ rơm. Ông hỏi với ra: Tiền đâu mà mệ con mi mua quà bánh thế? Hôm nay có nhà nhờ xu dọn. Ngoài tiền công ra, họ còn cho thêm đồ đồng nát bán nữa. Nhìn cô con du (dâu) đang quay nước rửa mặt, ông không khỏi dâng lên nỗi xót xa. Tội nghiệp, số nó khổ. Giờ đây một mình nó phải cáng đáng hết. Thằng Hải bị như thế rồi còn ai có thể nuôi cả nhà nếu không phải nó. Ấy vậy mà thằng Hải lại hay đánh vợ con. Cái thằng hâm. Bất cứ khi nào con Hoàng làm nó không hài lòng là nó lại đánh. Ông cứ phải can ngăn và vỗ về con du hoài, rằng thằng Hải bây giờ nó bệnh, hay nóng tính. Đừng chấp nó làm chi. Con Hoàng không nói, chỉ tấm tức khóc. Sáng mai lúc trời còn tờ mờ nó lại lóc cóc lai thằng con còn đang ngái ngủ về bên ngoại nhờ trông giúp và quảy quả ra cổng chợ Vinh ngồi chờ người ta mướn gì thì làm nấy. Có lúc ông Tào nghĩ quẩn, nếu chẳng may thằng Hải làm quá, con Hoàng dắt con về bên ngoại rồi đâm đơn ly dị ra toà, bố con ông sẽ sống ra sao đây? Về lý, nó có đủ lý do để làm chuyện đó. Bởi thằng Hải thường xuyên đánh đập vợ. Bệnh con của ông thế kia, lỡ nó làm điều gì dại dột thì khốn. Người ta phải bênh con Hoàng chứ. Chính vì thế, ông chỉ còn cách trông mong vào cái tình còn lại của con Hoàng. Ngoài sự trông mong ấy, ông chẳng còn biết phải làm gì nữa. Ông nghe kể, lắm con mụ độc mồm đã nhủ con Hoàng bỏ quách bố con ông để đi bước nữa. Gái một con mà. Nghe nói thế, con du của ông lắc đầu trả lời: Tôi mà bỏ, hai bố con anh ấy sống với ai? Được thuật lại chuyện đó, mắt ông cứ cay xè. Ông càng thương mẹ con thằng Cường lắm lắm. Ông biết mẹ con nó khổ với bố con ông nhiều. Ông thì già rồi, suốt ngày ru rú ở nhà. Còn thằng Hải thì… *** Ông nghĩ, sống trong nhà ông, niềm vui duy nhất hiện nay của mệ thằng Cường đó chính là việc đi nhà thờ đọc kinh mỗi tối. Vì thế cứ khoảng 5giờ chiều, mẹ con nó về, tắm giặt, nấu và ăn cơm, rửa dọn để kịp 7giờ tối lên nhà thờ đọc kinh. Trước thì chỉ một mình con vợ Hải đi thôi. Việc đó ông đã chẳng răn trước, ngay khi nó mới về nhà này còn gì. Cách đây khoảng một năm, lấy cớ để thằng Cường ở nhà không ai trông, con du ông mang cả thằng bé đi nhà thờ luôn. Lúc đầu ông thấy khó chịu, nhưng sau cũng quen. Tận trong thâm tâm, ông cũng không muốn thằng Cường đi nhà thờ. Nó là thằng cháu nội độc nhất của ông mà. Nó mà theo đạo rồi không biết mai kia mốt nọ, gia đình ông lấy ai mà nhang khói? Thế nhưng con Hoàng có đạo nhưng vẫn là con du tốt đấy thôi. Có mấy ai được như nó! Qua lân la hỏi chuyện thằng Cường, ông mường tượng người ta làm gì ở nhà thờ. Thảng trước đây, mỗi lần đi ngang nhà thờ, ông cố tình đi chậm lại để xem người có đạo làm gì trong đó. Lác đác trong ấy ông chỉ thấy họ đọc kinh. Đôi khi cũng thấy ông linh mục hay những nữ tu đứng ra giảng giải chuyện gì đó. Chẳng có gì là chống phá đất nước cả. Biết vậy nhưng hôm trước du Hoàng khép nép đến bên ông ngỏ lời xin cho thằng Cường được rửa tội và theo học đạo, ông vẫn bàng hoàng cả người. Bởi ông nghĩ con du đã quên và quen cái nếp ông định đặt khi nó về nhà này rồi chứ! Nhìn con du tần ngần đứng chết sượng ở đó, ông không nỡ quát nạt, dù trong lòng ông rất bực. Ông nói gằn: “Cứ để đó, Thầy phải suy nghĩ.” Chuyện xảy ra cách nay một tháng. Suốt một tháng qua, ông mất ăn mất ngủ vì chuyện này. Con Hoàng cũng không nhắc lại chuyện cũ, nhưng nhìn ánh mắt của nó, ông biết nó muốn gì. Nghĩ cho cùng, ông chẳng hiểu đạo là gì ngoài cô con du của ông. Nó sống làm sao, chòm xóm, họ hàng đều biết cả. *** Chiều tàn đến nơi mà cơn gió Lào cứ vẫn còn hầm hập. Chắc ông phải đi tắm thêm lần nữa trước khi ăn cơm tối. Ánh nắng cuối ngày đang dần tắt. Mệ thằng Cường đang vo gạo bên bờ giếng. Bóng dáng lùi lũi của nó khiến cho căn nhà vốn nực nội của ông như có bóng mây che mát. Ông nói vọng ra: Mệ thằng Cường nấu cơm xong, lên Thầy nhủ chuyện này. Dạ. Lão Tào chợt thấy lòng vui vui, vì chí ít, ông cũng sắp làm một điều khiến con du của ông an lòng, cảm thấy được bù đắp.